ĐẠO CA MILAREPA CÂU CHUYỆN THUNG LŨNG NGỌC ĐÁ ĐỎ (PHẦN 1)

28/09/2022

Kính Lễ Chư Đạo Sư Một lần, Đại Hành giả Yoga Milarepa ở Lâu Đài Chim Ưng trong Thung Lũng Ngọc [Đá Đỏ], (1) thâm nhập trong tu tập thiền định Đại Thủ Ấn (Mahāmudrā) (2). Cảm thấy đói bụng, ông quyết định sửa soạn bữa ăn, nhưng sau khi nhìn quanh ông thấy trong hang không còn lại gì cả, nước cũng không, củi cũng không, kể chi đến muối, dầu, hay bột mì. “Dường như mình đã chểnh mảng nhiều thứ quá chừng!” ông nói một mình, “Ta phải ra ngoài tìm ít củi.” Ông đi ra ngoài. Nhưng khi ông vừa nhặt được một nắm cành cây, thì đột nhiên một cơn bão nổi lên, và gió mạnh đến nỗi thổi bay củi và xé toạc tấm y đã rách nát của ông. Khi ông cố gắng giữ tấm y lại, thì củi bị thổi bay. Khi ông cố gắng gom củi lại, thì tấm y bị thổi banh ra. [Thất vọng], Milarepa nghĩ, “Mặc dù mình đã tu tập Pháp (3) và sống nơi cô tịch trong một thời gian dài, mình vẫn không dứt bỏ được sự bám víu vào cái ta! Không hàng phục được ngã chấp thì tu tập Pháp để làm gì? Hãy để cho gió thổi bay tấm y của ta nếu nó muốn! Nghĩ như vậy, ông ngừng phản kháng. Nhưng vì thiếu thức ăn, ông trở nên yếu đuối, với cơn gió mạnh kế tiếp, ông không còn chống chọi nổi với bão, và ngã xuống ngất xỉu. Khi ông tỉnh lại, bão đã hết. Trên cành cây cao, ông nhìn thấy tấm y của ông đu đưa theo gió nhẹ. Sự vô ích của thế gian này và tất cả những sự việc của nó đã đập mạnh vào Milarepa, và một cảm xúc khước từ mạnh mẽ đã bao trùm lấy ông. Ngồi lên một tảng đá, ông thiền định một lần nữa.

Chẳng bao lâu, một đám mây trắng nhô lên từ Thung Lũng Dro Wo (4) xa xa về hướng Đông. “Bên dưới bờ mây ấy là ngôi chùa của Đạo Sư (Guru) ta, đại Dịch giả Marpa,” (5) Milarepa ngẫm nghĩ, “Ngay trong giờ phút này, Ông và vợ Ông ắt đang giảng dạy các giáo lý Mật Điển, ban lễ Khai Thị và những chỉ dạy cho các huynh đệ của ta. Vâng, Đạo Sư của ta đang ở đó. Nếu ta có thể đến đó, ta sẽ gặp Người.” Sự mong muốn không thể đo lường, không thể chịu đựng được, về người Thầy của ông dâng lên trong lòng khi ông nghĩ một cách tuyệt vọng về vị Đạo Sư của mình. Mắt ông đẫm lệ, và ông bắt đầu hát một bài hát, “Nghĩ Đến Đạo Sư của Con”:

Khi nghĩ đến Thầy, ôi Sư Phụ Marpa, nỗi khổ của con được vơi bớt; Con, người khất sĩ, bây giờ hát dâng Thầy khúc hát nhiệt tâm. Bên trên Thung Lũng Ngọc Đá Đỏ, ở phương Đông, Bềnh bồng một cụm mây trắng; Bên dưới, giống như con voi nhảy chồm, một hòn núi khổng lồ vươn cao; Bên cạnh, tựa như một con sư tử đang nhảy lên, lờ mờ hiện lên một đỉnh núi khác. Trong ngôi chùa ở Thung Lũng Dro Wo một tòa đá kếch sù yên nghỉ; Bây giờ ai đang ngự trên đó? Có phải là Marpa Dịch giả? Dù giới hạn vì tôn kính, con ước mong được thấy Thầy; Nếu Thầy ở đó, con sẽ vui và an lạc. Dù lòng tin yếu ớt, con ước mong được hội họp cùng Thầy. Càng thiền định, con càng mong ước Thầy. Vợ hiền của Thầy, Dagmema, còn ở với Thầy không? Đối với bà, con biết ơn còn hơn cả mẹ con. Nếu bà ở đó, con sẽ vui và an lạc.

Dù đi xa, con ước mong thấy bà, Dù đường hiểm nghèo, con vẫn ước mong đoàn tụ cùng bà. Càng chiêm nghiệm nhiều, con càng nghĩ đến Thầy. Càng thiền định, con càng nghĩ đến Đạo Sư của con. Nếu con có thể cùng nhau tụ họp thì thực là an lạc, Ở đó có lẽ Thầy đang dạy Mật Điển Hevajra.

(6) Dù tâm trí đơn giản, con mong muốn học. Dù dốt nát, con ước mong tụng đọc. Càng chiêm nghiệm, con càng nghĩ đến Thầy; Càng thiền định, con càng nghĩ đến Đạo Sư của con. Thầy bây giờ có lẽ đang ban Bốn Lễ Khai Thị Thủ Ấn (7) của Dòng Đạo Khẩu Truyền; (8) Nếu có thể đoàn tụ cùng nhau, con sẽ vui và an lạc. Dù thiếu công đức, con ước mong được khai thị – Dù quá nghèo không thể cúng dường nhiều, con mong được khai thị. Càng chiêm nghiệm, con càng nghĩ đến Thầy; Càng thiền định, con càng nghĩ đến Đạo Sư của con. Bây giờ có lẽ Thầy đang dạy Sáu Yoga của [Sư ông] Naropa; (9) Nếu con có thể ở đó, con sẽ vui và hạnh phúc. Dù thiếu tinh tấn, con cần học; Dù nghèo kiên trì, con ước mong tu tập. Càng chiêm nghiệm, con càng nghĩ đến Thầy; Càng thiền định, con càng nghĩ đến Đạo Sư của con.

Các huynh đệ từ Weu và Tsang có thể đang ở đó. Nếu vậy, con sẽ vui và hạnh phúc. Dù Kinh Nghiệm và Chứng Ngộ của con thấp kém, Con mong so sánh sở đắc của con với họ. Dù trong niềm tin và tôn kính sâu xa nhất Con không bao giờ xa cách Thầy, Giờ đây con khổ sở vì cần thấy Thầy.

Mong ước nồng nhiệt này làm con thống khổ, Sự dày vò to lớn này làm con nghẹt thở. Đạo Sư ân huệ của con, nguyện giải thoát con khỏi sự dày vò.

Ngay khi Milarepa kết thúc, Tôn giả (Jetsun) Marpa (10) xuất hiện trên đám mây cầu vồng giống như chiếc y năm màu. Với ánh [thiên] quang luôn gia tăng tuôn tràn trên khuôn mặt, và cưỡi con sư tử với yên cương giàu có, Tôn giả đến gần Milarepa. “Đại Phù Thủy (11), con ta, tại sao con gọi ta một cách tuyệt vọng, với xúc động sâu xa như vậy?”

Ông hỏi. “Tại sao con tranh đấu như vậy? Con không có niềm tin nơi Đạo Sư của con và Phật Hộ Trì sao? Ngoại giới có hấp dẫn con vì những ý nghĩ quấy rầy không? (12) Tám Gió Thế Gian (13) có hú lên trong hang động của con không? Có phải sợ hãi và ước mong đã hút đi sức mạnh của con? Có phải con đã không liên tục phụng sự chư Đạo Sư và Tam Bảo (14) ở trên? Có phải con đã không hiến công đức của con cho chúng sinh (15) trong Sáu Nẻo? (16) Có phải bản thân con đã không đạt đến cảnh giới ân huệ để con có thể tẩy sạch tội lỗi của con và thành tựu công đức không? Bất kể là nguyên nhân gì, con có thể chắc chắn rằng chúng ta không bao giờ chia cách. Vì thế, vì pháp, vì lợi ích của chúng sinh, con hãy tiếp tục thiền định.”

Được thị kiến hân hoan tối thượng phấn khích như thế, Milarepa hát trả lời:

Khi con thấy vẻ mặt của Đạo Sư và nghe lời Người nói, Con, người khất sĩ, được Khí (Prāṇa) khuấy động trong tim (17) Khi nhớ đến những lời dạy của Đạo Sư, Trong lòng con sinh tôn kính. Những sự gia trì từ bi của Người đã vào tim con; Tất cả những ý nghĩ phá hoại (18) đều bị xua tan

Bài hát nhiệt thành, gọi là “Nghĩ Đến Đạo Sư của Con.”

Thầy của con, chắc chắn Thầy đã nghe; Song con vẫn còn trong u tối. Xin hãy thương xót con và ban cho con sự hộ trì! Sự kiên trì không thể chế ngự Là hiến vật cao nhất dâng lên Đạo Sư. Cách tốt nhất để làm Người hài lòng Là chịu khó thiền định! Ở trong hang động này, một mình, Là phụng sự cao quí nhất đối với các thiên nữ Đa-ki-ni! (19) Tự hiến mình cho Thánh Pháp Là phụng sự tốt nhất cho Phật Giáo – Hiến dâng đời con cho thiền định, như vậy Trợ giúp những chúng sinh không người trợ giúp! Thương sự chết và bệnh tật là sự gia trì Qua đó rửa sạch tội lỗi; Từ chối thức ăn bị cấm giúp người ta Đạt Chứng Ngộ và Giác Ngộ; Đáp lại nhân từ độ lượng của Sư Phụ Con thiền định và thiền định nữa.

Đạo Sư của con, xin người bảo vệ con! Xin giúp người khất sĩ này ở lại mãi mãi nơi ẩn tu.

CHÚ THÍCH:

(1) Lâu Đài Chim Ưng trong Thung Lũng Ngọc Đá Đỏ (T.T.: mChon.Lun. Khuyn.Gi.rDon.). Mặc dù “mChon” thường có nghĩa là nhảy hay chồm lên, ở đây dường như nên dịch là “Ngọc” thì tốt hơn hay “Châu báu” ‒ là một nghĩa khác của chữ đó.

(2) Mahāmudrā dịch là Đại Ấn hay Đại Thủ Ấn hay Đại Biểu Tượng là giáo lý thực tiễn về Tánh Không (Śūnyatā). Tánh Không là nguyên lý nhấn mạnh sự không hiện hữu của “bản thể” của tất cả hiện thể, là giáo pháp quan trọng nhất của Phật Giáo Đại Thừa cũng như của Mật tông Tây Tạng. Theo một vài học giả Tây Tạng, Giáo pháp Trung đạo (Mādhyamika), là giáo lý về Tánh Không trong hình thức tổng quát, trong khi Đại Thủ Ấn (Mahāmudrā) là giáo lý về Tánh Không theo đó người ta có thể thực tế đưa các nguyên lý của Trung đạo vào tu tập. [Lược bỏ đoạn giải thích chi tiết về Tánh Không của bản tiếng Anh – ND] Phái Khẩu Truyền (Ghagyuba) [Kagyupa] và Cổ phái (Ningmaba) ở Tây tạng xem Đại Thủ Ấn là cao nhất và quan trọng nhất trong tất cả mọi giáo lý của Phật Giáo, phái Mũ Vàng (Gelugba) không hoàn toàn đồng ý như thế. Đại Thủ Ấn (Mahāmudrā), trong nhiều cách, rất giống với Thiền Trung Hoa.

(3) Pháp (Ph.: Dharma): Thuật ngữ này, được dùng thường nhất trong văn học Phật Giáo, có hai cách dùng: chỉ lời dạy của đức Phật, đôi khi được dịch là Pháp hay Giáo pháp, và chỉ hiện thể hay vật thể. Ở đây nó được dùng theo nghĩa thứ nhất.

(4) Thung lũng Dro Wo: nơi có chùa của Marpa.

(5) Dịch giả Marpa là thầy của Milarepa. Ông là một học giả vĩ đại cũng là một hành giả Yoga vĩ đại, đã sáng lập Phái Khẩu truyền (Ghagyuba) của Phật Giáo Tây Tạng.

(6) Hevajra: tên tiếng Phạn; từ Tây Tạng tương đương là dGyes. Pa,rDor.rje. Để giúp độc giả không quen với những từ Tây Tạng, nhiều tên và từ Phạn ngữ được dùng trong bản dịch cũng như trong các Chú thích.

(7) Bốn Lễ Khai Thị Thủ Ấn (T.T.: dWan.bShi): Lễ Khai Thị đầu tiên gọi là “Lễ Khai Thị Cái Bình.” Người nhận nó được cho phép tu tập Mantra Yoga hay Yoga Chân Ngôn. Thứ hai gọi là “Lễ Khai Thị Bí Mật,” và cho người nhận đặc quyền tu tập Prāṇa Yoga hay Yoga Luyện Khí. Thứ ba gọi là “LễKhai Thị Trí Tuệ,” và cho phép người nhận tu tập Prājñā Yoga hay Yoga Luyện Trí Tuệ. Thứ tư gọi là “Lễ Khai Thị Thủ Ấn,” và xác nhận đặc quyền tu tập Mahāmudrā Yoga hay Yoga Đại Thủ Ấn.

(8) Khẩu Truyền (T.T.: bKah.rGyud.Pa), trong sách này được dịch theo nhiều cách khác nhau: Khẩu Truyền hay Truyền Thừa hay Dòng Truyền Rỉ Tai. Trường phái này (Ghagyupa) trong thời kỳ đầu tiên, nhấn mạnh phép tu tập Yoga và truyền thống – gồm sự mật truyền bằng miệng các giáo lý. Sau này, khi nó phát triển thành Giáo hội có tu viện lớn, truyền thống này đã bị mất một phần.

(9) Sáu Yoga của Naropa: 1. Yoga về Nhiệt, 2. Yoga về Mộng, 3. Yoga về Thân Huyễn, 4. Yoga về Bardo [Thân Trung Ấm], 5. Yoga về Chuyển Hóa [Chuyển Thức], và 6. Yoga về Ánh Sáng [Tịnh Quang].

(10) Jetsun (T.T.: rJe.bTsun.): Từ Tây Tạng chỉ sự tôn kính đối với các vị lãnh đạo tôn giáo, thánh tăng, và các đại sư. [Có thể dịch là Tôn giả, ND].

(11) Đại Phù Thủy là biệt hiệu của Milarepa. [Xem thêm tiểu sử trong “Milarepa, Con Người Siêu Việt” - ND.]

(12) Ý nghĩ quấy rầy, Nhamdog (T.T.: rNam.rTog.): là một thuật ngữ rất thường dùng trong văn học Phật Giáo cũng như trong sách này. Nhamdog có nhiều nghĩa, nghĩa thông thường nhất là “ý nghĩ quấy rầy” hay “ý nghĩ tuôn chảy.” Dòng niệm tưởng miên tục không bao giờ ngừng, dù người ta có thể không ý thức sự hiện hữu của nó. Be bờ hay chận đứng dòng niệm tưởng không dứt này là một điều kiện tiên quyết cho sự đạt Chánh định. Nhamdog còn có nghĩa là những ý nghĩ cuồng loạn, những phán xét sai, những ảo tưởng, những thay đổi bất thường, sự tưởng tượng, sự xung động, và vân vân.

(13) Tám Gió (hay Pháp) Thế Gian: tám ngọn “gió” hay ảnh hưởng quạt lên phiền não, tức là, được, mất; chê bai, tán tụng; ca ngợi, cười nhạo; ưu sầu, vui vẻ. Trong sách này, nó còn được dịch là “Tám Tham Dục Thế Gian”.

(14) Tam Bảo là ba thứ quí: Phật, Pháp, và Tăng. Phật là người đã Giác Ngộ Viên Mãn; Pháp là những lời dạy của Phật; Tăng là các hiền giả đã giác ngộ Phật Giáo.

(15) Chúng sinh: thuật ngữ chỉ loài người và tất cả sinh vật, vì lợi ích tu tập Pháp mà tất cả công đức đều được cúng dường cho tất cả chúng sinh.

(16) Sáu Nẻo hay Sáu Cõi hay Sáu Đường, tức là: Địa ngục, Ngạ quỉ, Súc sinh, A-tu-la, Người, và Thiên thần [chúng sinh ở cõi trời].

(17) Tâm-Khí: Người ta tin rằng đa số những thị kiến và xúc động cảm thấy trong thiền định là do Khí (Prāṇa) từ Trung Khu Trái Tim gây nên.

(18) Những ý nghĩ phá hoại: những ý nghĩ phi-Pháp, hay trái nghịch với Pháp.

(19) Đa-ki-ni (T.T.: mKhah.hGro.Ma.) là những thiên nữ đi trên không trung [không hành nữ]. Họ giữ những vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện nhiều hành động Mật Giáo khác nhau.

Sản phẩm đã được thêm vào giỏ hàng
Hotline Hotline: 0909.768.112
zaloNhắn tin zalo
messNhắn tin SMS
shoppeShoppe